chung cu times city, to chuc su kien, tai zalo , tai facebook, to chuc su kien

Counter

Thực hiện sự phân công của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ đã chủ trì và phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ủy ban dân tộc, Trung ương Hội nông dân Việt Nam, Bộ Tài chính và UBND các tỉnh, thành phố triển khai thực hiện 288 dự án tại 60 tỉnh, thành phố với tổng kinh phí là 743.917 triệu đồng, trong đó kinh phí hỗ trợ từ ngân sách sự nghiệp khoa học và công nghệ Trung ương là 295.325 triệu đồng (chiếm 39,7%) và huy động từ dân, doanh nghiệp, ngân sách địa phương là 448.592 triệu đồng (chiếm 60,3 %). Các dự án thuộc Chương trình đã giúp các địa phương tiếp nhận, làm chủ và phát triển các công nghệ để giải quyết các vấn đề về: chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhân giống và đưa vào sử dụng các giống cây trồng vật nuôi có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao nhằm tăng năng suất, tăng thu nhập trên diện tích hiện có tại địa phương; phát triển các sản phẩm lợi thế của Việt Nam như cây ăn quả có múi đặc sản, hoa các loại; chăn nuôi đại gia súc; phát triển cây công nghiệp, cây dược liệu, cây ăn quả; trồng và bảo vệ rừng; bảo quản, chế biến nông, lâm, hải sản; tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp và lao động nông nhàn, phát triển nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu; giải quyết nước sạch quy mô hộ gia đình và cụm dân cư; khôi phục và phát triển ngành nghề truyền thống và nghề phụ; xây dựng vùng nguyên liệu phục vụ việc khôi phục và phát triển nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống; phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp; sản xuất giống và nuôi thuỷ sản với các hình thức nuôi công nghiệp, bán công nghiệp, nuôi sinh thái; ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất và sử dụng các chế phẩm sinh học phục vụ sản xuất nông sản an toàn; xử lý môi trường nông thôn và môi trường làng nghề; cung cấp thông tin khoa học và công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn. Sau đây là kết quả cụ thể:

  1. Các công nghệ phục vụ trồng trọt

  Các dự án thuộc lĩnh vực này đã giúp các địa phương tiếp nhận và ứng dụng các công nghệ để chủ động sản xuất giống cây trồng sạch bệnh, phát triển sản phẩm có lợi thế của địa phương, của vùng như cây ăn quả có múi đặc sản, hoa các loại, các loại cây dược liệu có giá trị; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sử dụng các giống cây trồng mới làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng hiệu quả kinh tế tổng hợp trên đơn vị diện tích canh tác; sử dụng các loại phân bón hữu cơ vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học trong quy trình sản xuất các nông sản, giúp nông dân tiếp cận và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông sản an toàn nói chung, rau quả an toàn nói riêng.

  Đã triển khai thực hiện 117 dự án, đào tạo được khoảng 520 kỹ thuật viên cơ sở; tập huấn kỹ thuật cho 17.496 lượt nông dân tại các địa bàn dự án; triển khai chuyển giao và tiếp nhận 163 quy trình công nghệ; xây dựng được 191 mô hình với diện tích triển khai trên 1.500 ha và đã tổ chức hàng chục hội nghị đầu bờ để khuyến cáo kết quả tới cộng đồng dân cư trên địa bàn.

  Với việc chuyển giao, tiếp nhận các công nghệ sản xuất cây giống đảm bảo chất lượng, các dự án đã tổ chức lưu giữ, bảo quản giống gốc, ươm, sản xuất, cung cấp cây giống sạch bệnh cho các mô hình trồng để từ đó tạo điều kiện mở rộng các vùng sản xuất các sản phẩm có lợi thế, cho hiệu quả kinh tế cao như: dự án phát triển cây ăn quả có múi sạch bệnh ở Bắc Kạn, Hậu Giang, phát triển cây Thanh trà ở Thừa Thiên – Huế, cây hồng Gia Thanh ở Phú Thọ, phát triển cây thanh long ruột đỏ ở Đồng Nai; dự án phát triển vùng chè nguyên liệu bằng việc sử dụng các giống chè mới chất lượng cao ở Thái Nguyên, Phú Thọ, Yên Bái; dự án xây dựng vườn sản xuất giống cây ăn quả ở Đăk Nông, dự án phát triển cây dược liệu ở Hà Nội và ở Thanh Hoá; các dự án phát triển hoa theo hướng sản xuất công nghiệp tại Lâm Đồng, Lào Cai, Phú Yên, Thanh Hoá; dự án sản xuất giống hoa và rau an toàn Thái Bình, Sóc Trăng đã tạo được các cơ sở nhân giống với 15.700 m2 nhà lưới, nhà plastic, hệ thống nhà che mát, nhà lưới chống côn trùng, hệ thống tưới. Các dự án đã sản xuất và cung cấp hàng chục triệu cây giống sạch bệnh, chất lượng cao cho hàng trăm ha của mô hình vườn trồng và diện tích sản xuất đại trà tại các địa phương, tạo điều kiện hình thành các vùng chuyên canh sản xuất các sản phẩm hàng hoá có chất lượng, hiệu quả kinh tế cao. Ví dụ như:

      + Dự án “Xây dựng mô hình trồng thâm canh 02 giống bưởi đặc sản Đoan Hùng tại huyện Đoan Hùng” đã góp phần chuyển đổi 293 ha vườn tạp, đất trống ở Đoan Hùng, Phú Thọ thành vùng bưởi với giống bưởi Bằng Luân, bưởi Sửu chất lượng cao. Dự án đã góp phần xây dựng vùng sản xuất bưởi hàng hóa (1.000 ha); góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất đồi và vườn tạp, tạo công ăn việc làm cho một bộ phận dân cư ở nông thôn, tăng thu nhập (dự kiến 150 đến 180 triệu đồng/ha) tiến tới làm giàu cho hộ nông dân.

      + Dự án “Xây dựng mô hình thâm canh và tổ chức tiêu thụ Bưởi Da xanh theo hướng hàng hóa an toàn và chất lượng cao tại huyện Chợ Lách, Bến Tre”. Giúp địa phương tiếp nhận công nghệ nhân giống, thâm canh sản xuất bưởi gia xanh theo hướng GAP nhằm khôi phục phát triển cây ăn quả có lợi thế của Bến Tre, tăng năng lực canh tranh của bưởi gia xanh trên thị trường trong và ngoài nước; tăng thu nhập lên 400 triệu đồng/1 ha/năm góp phần xây dựng vùng chuyên canh sản xuất bưởi hàng hóa ở quy mô 3000 ha.

      + Dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng khoa học công nghệ phát triển vùng cây có múi đặc sản sạch bệnh” tỉnh Hậu Giang, đã triển khai thực hiện tại 180 hộ trên địa bàn 5 huyện và cung cấp 560 cây đầu dòng (Cam sành, Bưởi Năm roi, Cam soàn, Quýt đường, Cam mật có hạt, Cam mật không hạt) cho các cơ sở đó. Đã tổ chức 8 cuộc tập huấn kỹ thuật canh tác cơ bản cho 121 hộ nông dân về kỹ thuật lưu giữ, chăm sóc cây đầu dòng, sản xuất giống sạch bệnh và đã sản xuất trên 60.000 cây giống cung cấp cho 204 hộ nông dân trồng trên quy mô 80 ha, năng suất đạt 10,8 – 12 tấn/ha, thu trung bình 129,6 triệu đồng/ha/năm, tăng hơn so với đại trà 10 – 15 triệu đồng/ha/năm.

      + Dự án “Ứng dụng KHCN phát triển kinh tế hộ gia đình cải thiện điều kiện sống, khai thác hợp lý tiềm năng đất đai ở vùng đồng bào dân tộc Vân Kiều, xã Hướng Việt huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị” đã giúp cho bà con dân tộc Vân Kiều tiếp nhận và áp dụng được các tiến bộ kỹ thuật để canh tác cây lúa nước, trồng và chăm sóc cây ăn quả, cây công nghiệp. Kết quả, thu nhập trên mô hình lúa đạt 39,75 triệu đồng/1ha/năm, mô hình lạc đông xuân kết hợp với ngô hè thu đạt 60 triệu đồng/ha/năm, mô hình lạc đông xuân kết hợp với lúa hè thu đạt 40 triệu đồng/ha/năm, bình quân thu nhập tăng 21 đến  25 triệu đồng/ha/năm so với trước khi có dự án vào, nhờ đó bà con Vân Kiều đã bỏ được tập quán du canh du cư, ổn định sản xuất, nâng cao thu nhập và góp phần xóa đói giảm nghèo.

     + Dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng để nâng cao chất lượng nông sản, tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đất canh tác ở một số xã thuộc huyện Ninh Giang, Hải Dương” đã tổ chức tập huấn cho 3.060 lượt nông dân về kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc và đưa các giống lúa, bí xanh, khoai tây,... có năng suất cao, chất lượng tốt vào cơ cấu cây trồng, áp dụng các công thức luân canh hợp lý cho các vùng đất đã đem lại lợi nhuận bình quân từ 45 đến 55 triệu đồng/ha/năm cho các hộ nông dân tham gia dự án.

     + Dự án “Xây dựng mô hình phát triển cây thanh long ruột đỏ theo hướng GAP tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai” đã giúp địa phương tiếp nhận kiến thức khoa học tiên tiến về kỹ thuật trồng cây thanh long an toàn theo tiêu chuẩn VietGap, đào tạo 4 kỹ thuật viên cơ sở và 50 hộ nông dân nắm vững kỹ thuật về giống, chăm sóc, bảo quản sau thu hoạch theo hướng GAP, đã trồng 10 ha mô hình cây thanh long ruột đỏ cho năng suất, chất lượng cao, sau 2 năm trồng đó cho thu bình quân 150 triệu đồng/ha/năm. Kết quả của dự án là tiền đề để hình thành các hợp tác xã sản xuất thanh long ruột đỏ theo hình thức tự nguyện và phát triển vùng nông sản hàng hoá mới trên địa bàn tỉnh.

     + Dự án “Xây dựng vườn nhân giống cây ăn quả và mô hình sử dụng chất hữu cơ giữ ẩm cho cây trồng trên đất dốc tại xã Đăk Nia, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông” đã đào tạo được 20 kỹ thuật viên, tập huấn kỹ thuật cho 720 nông dân, hoàn thành 5.000 m2 nhà lưới, 0,25 ha vườn giống gốc với trên 3.000 cây giống gốc, 05 ha vườn sản xuất, đảm bảo phục vụ giống cây ăn quả có chất lượng cao cho vùng.

     + Dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất hoa tại Đà Lạt” đã giúp địa phương làm chủ được công nghệ về sản xuất giống và trồng hoa cúc, hoa hồng, hoa địa lan. Đã đào tạo được 76 kỹ thuật viên và tập huấn cho 540 lượt nông dân. Đã trồng được 2 ha địa lan quy mô công nghiệp, 4 ha hoa hồng và 17 ha hoa cúc thương phẩm, kết quả mô hình hoa hồng đã nâng cao được hiệu quả kinh tế so với trồng đại trà là 280 triệu đồng/ha; mô hình hoa cúc tăng hơn so với sản xuất đại trà là 50 triệu đồng/ha.

 

       2. Công nghệ phục vụ chăn nuôi            

 Đã triển khai thực hiện 27 dự án. Các dự án đã tổ chức chuyển giao, tiếp nhận 86 quy trình công nghệ trong chăn nuôi bò thịt, lợn, gia cầm, trồng cỏ và chế biến thức ăn chăn nuôi; đào tạo được 153 kỹ thuật viên, xây dựng 63 mô hình và tập huấn cho 2019 lượt hộ nông dân về kỹ thuật trồng cỏ, chế biến thức ăn, kỹ thuật chăn nuôi, công tác thú y phòng dịch bệnh cho gia súc, gia cầm, nuôi ong lấy mật; xây dựng được cơ sở sản xuất giống và nuôi rắn hổ mang; cải tạo tầm vóc của đàn bò địa phương bằng các bò đực giống tốt và kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, xây dựng được các mô hình chăn nuôi đại gia súc tập trung và bán chăn thả ở vùng trung du, miền núi. Ví dụ:

+ Dự án chăn nuôi bò ở Đăk Lăk, Đồng Nai, Yên Bái, Bắc Giang,... đã đưa các bò đực giống Brahman, Sind, và các giống Zebu khác vào các mô hình để cải tạo đàn bò vàng địa phương. Kết quả dự án chăn nuôi bò ở Đăk Lăk đã giúp bà con vùng đồng bào dân tộc tiếp nhận và làm chủ công nghệ tạo đàn bò lai có năng suất và chất lượng thịt cao; hiện nay kết quả của dự án đang được bà con trong vùng hưởng ứng học tập và phát triển thêm hàng chục mô hình (bình quân mỗi nông hộ nuôi từ 60 - 70 con, mỗi năm thu từ 450 đến 500 triệu đồng tăng so với chăn nuôi truyền thống từ 300 đến 350 triệu đồng), dự án đã tạo công ăn việc làm ổn định, tăng thu nhập nhằm xóa đói giảm nghèo cho đồng bào vùng dân tộc.

+ Dự án xây dựng trại sản xuất rắn hổ mang Vĩnh Phúc đã xây dựng được 160 m2 nhà nuôi rắn bố mẹ, 89 chuồng rắn sinh sản, 560 m2 chuồng, có thể nuôi từ 10.000 đến 12.000 rắn giống và một buồng ấp trứng rắn 25 m2, tuyển chọn được 1.000 rắn sinh sản, cho ấp nở được 8.000 rắn con; các kỹ thuật viên của dự án đã tiếp nhận và làm chủ được công nghệ từ khâu sản xuất giống đến khâu nuôi, đưa nghề nuôi rắn trở thành một ngành sản xuất hàng hóa ở huyện Vĩnh Tường phục vụ cho ngành Y tế sản xuất dược liệu hướng tới xuất khẩu.

   + Dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao kỹ thuật nuôi ong, khai thác, chế biến mật ong xuất khẩu tại tỉnh Gia Lai”. Dự án đã giúp đồng bào các dân tộc trong vùng dự án tiếp nhận công nghệ nuôi, nhân đàn, chế biến mật; khai thác có hiệu quả tiềm năng về trữ lượng cây nguồn mật, đồng thời tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống và an sinh xã hội ở địa phư­ơng, đưa nghề nuôi ong trở thành một nghành sản xuất hàng hóa, h­ướng phục vụ xuất khẩu và nội tiêu. Sau 3 năm triển khai thực hiện, đến nay đã thay thế được giống ong nội bằng giống ong ngoại cho năng suất mật cao, từ 2.000 cầu ong của dự án đã nhân rộng lờn 60.000 cầu ong, sản phẩm mật ong của dự án đã  xuất được 450 tấn sang thị trường một số nước khối EU và Mỹ thu 13 tỷ đồng.

   + Dự án “Ứng dụng công nghệ chăn nuôi lợn siêu nạc theo phương thức công nghiệp, tạo giống lợn bố, mẹ phục vụ phát triển chăn nuôi tại tỉnh Yên Bái” thông qua việc triển khai các nội dung của dự án, đơn vị chủ trì đã tiếp nhận các công nghệ về giống ông, bà; giống bố, mẹ; giống thương phẩm; nuôi thương phẩm; công nghệ Biogas. Kết quả của dự án đã đào tạo được 14 kỹ thuật viên, tập huấn cho hơn 150 hộ nông dân và hình thành một trang trại chăn nuôi lợn khép kín từ khâu giống các cấp đến nuôi thương phẩm và xử lý chất thải chăn nuôi thành Biogas có quy mô 100 nái ông bà, 600 nái bố mẹ, 7.000 lợn thương phẩm và 5 trại nuôi lợn vệ tinh quy mô 20 nái và 500 lợn thương phẩm. Năm 2006 (trước khi có dự án) doanh thu của trang trại đạt 1 tỷ đồng, sau 3 năm thực hiện dự án đến 2009 doanh thu của trang trại đạt 24,7 tỷ đồng, giải quyết được 115 lao động tại chỗ.

       3. Các công nghệ phục vụ phát triển sản xuất giống và nuôi trồng thuỷ sản

Đã triển khai thực hiện 30 dự án. Các dự án đã giúp các địa phương tiếp nhận và làm chủ được các công nghệ: Sản xuất giống cua biển, ương giống một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao, sản xuất giống và nuôi tu hài, nuôi cá lồng trên biển, sản xuất giống và nuôi ngao thương phẩm, nuôi cá song (mú), cá rô phi đơn tính, xử lý môi trường nuôi bằng dung dịch điện hoạt hóa. Kết quả, đã đào tạo 65 kỹ thuật viên cơ sở; tổ chức hàng chục hội thảo, hội nghị đầu bờ, tập huấn cho 967 hộ nông dân; chuyển giao được 27 quy trình công nghệ về sản xuất giống, nuôi thuỷ sản và xử lý môi trường nuôi cho các đơn vị ở các vùng nuôi khác nhau, giúp các địa phương có điều kiện giải quyết việc sản xuất giống thuỷ sản tại chỗ, cung cấp cho yêu cầu của sản xuất, tạo ngành nghề mới cho ngư dân vùng biển. Ví dụ:

    + Dự án “Xây dựng trại sản xuất giống cua biển tại vùng đầm nước lợ xã Kim Đông, huyện Kim Sơn” Ninh Bình đã cho cua sinh sản thành công và tỷ lệ sống của ấu trùng cao (20%), cua giống là sản phẩm của dự án đạt chất lượng tốt, giá thành rẻ hơn so với giống nhập từ các tỉnh Nam Trung bộ, cung cấp cua giống phục vụ nông dân trong vùng nuôi thương phẩm; dự án đã giúp địa phương tiếp nhận và làm chủ được công nghệ sản xuất giống cua biển, giải quyết việc sản xuất giống thuỷ sản tại chỗ, tạo ngành nghề mới, gúp phần tăng thu nhập cho nông dân vùng Đồng bằng sông Hồng. Trong 3 năm 2005 đến 2007 doanh thu của trại đạt 2 tỷ đồng trong đó lãi ròng là 581 triệu đồng.

     + Dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm tu hài tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh”. Đơn vị chủ trì đã tiếp nhận , làm chủ được công nghệ sản xuất giống và nuôi tu hài thương phẩm, đào tạo 4 kỹ thuật viên, 50 công nhân và tập huấn cho 1.000 hộ ngư dân về kỹ thuật nuôi tu hài. Trước khi có dự án doanh thu công ty chỉ đạt 2 tỷ đồng/năm, sau khi triển khai thực hiện dự án 1 năm (năm 2007) thì doanh thu của công ty đã tăng lên 10 tỷ đồng, đến năm 2009 đạt 150 tỷ đồng và dự kiến năm 2010 đạt 200 tỷ đồng. Đến nay, việc nhân giống và nuôi thương phẩm tu hài đã được nhân rộng ra toàn huyện đảo Vân Đồn và các tỉnh Hải Phòng, Nghệ An, Thanh Hóa...

     + Dự án “Ứng dụng khoa học sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm cá Tra công nghiệp trong ao đất tại xã Thạnh Đông, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang” đã xây dựng được 3 mô hình nuôi cá bột, ương giống và nuôi thương phẩm với diện tích 45 ha, tạo được 2,6 triệu cá bột, 60.000 con cá giống và 525 tấn cá thương phẩm. 

  + Dự án “Xây dựng mô hình ương giống 3 loài cá biển ở một số tỉnh có tiềm năng nuôi biển trọng điểm là Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An và Phú Yên” đã đào tạo, chuyển giao 03 quy trình công nghệ về ương nuôi cá hương thành cá giống cho 4 đơn vị tiếp nhận tại 04 tỉnh: Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An và Phú Yên. Đã sản xuất và vận chuyển được 124.000 cá hương giống cá Hồng Mỹ, cá Giò, cá Song đến 4 điểm tiếp nhận công nghệ, tỷ lệ sống sau vận chuyển 90-95%. Các kỹ thuật viên cơ sở đã thực sự làm chủ công nghệ và đã tiến hành ương cá hương thành cá giống với tỷ lệ sống đến giai đoạn cá giống cao (cá Hồng Mỹ 80-95%, cá Giò đạt 85-90%, cá Song đạt 81-95%). Các dự án tại Nghệ An và Hà Tĩnh cũng đã giúp địa phương tiếp nhận và làm chủ được công nghệ sản xuất giống thuỷ sản tại chỗ, tạo ngành nghề mới cho nông dân tại địa bàn triển khai dự án và các vùng lân cận trong nuôi trồng thuỷ sản, tạo công ăn việc làm, khai thác tiềm năng vùng ven biển, tăng thu nhập cho các hộ nuôi như: cá song chấm nâu đạt 96 triệu đồng/ha; cá giò đạt 94 triệu đồng/ha; cá hồng mỹ đạt 55 triệu đồng/ha.

 4. Công nghệ phục vụ trồng trọt kết hợp chăn nuôi, thuỷ sản

 Đã triển khai thực hiện 21 dự án. Đã chuyển giao, tiếp nhận và duy trì phát triển 48 quy trình kỹ thuật: chăn nuôi lợn kết hợp Biogas; bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp với đặc điểm của các tiểu vùng; chăn nuôi kết hợp với nuôi thủy sản; luân canh lúa - nuôi thủy sản; chuyển đổi vùng đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng trọt kết hợp chăn nuôi, thủy sản;... đã đào tạo được 172 kỹ thuật viên cơ sở và tổ chức tập huấn cho 2.670 lượt nông dân. Ví dụ như:

           + Dự án “Xây dựng mô hình kinh tế hợp tác lúa – thuỷ sản – vật nuôi tổng hợp ở vùng lũ thành phố Cần Thơ” đã có sáng kiến thành lập tổ hợp tác gồm 10 hộ và có quy chế hoạt động phù hợp, tạo quỹ tín dụng nội bộ hỗ trợ các thành viên phát triển sản xuất, bước đầu dự án đã phát huy hiệu quả.

           + Dự án “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp đa canh thích hợp cho vùng đồng bào Khmer xã biên giới Phú Lợi, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang” đã giúp cho bà con vùng đồng bào Khmer biết ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới trong canh tác lúa, nuôi thuỷ sản, chăn nuôi và cải tạo đàn bò lai Sind. Kết quả tiển khai mô hình lúa trên diện tích 123,5 ha có năng suất cao hơn đại trà 30%; mô hình cải tạo đàn bò địa phương bằng giống bò lai Sind quy mô 54 con; đào tạo 16 kỹ thuật viên và tập huấn cho 700 lượt nông dân. Dự án đã góp phần làm thay đổi tập quán canh tác và tạo niềm tin cho bà con vùng đồng bào Khmer về việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất.

          + Dự án “Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật xây dựng mô hình đa canh trên nền đất lúa vùng sản xuất khó khăn xã Vĩnh Mỹ A, huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu”. Dự án đã triển khai 90 ha mô hình trồng lúa, năng suất tăng 25 – 30 % so với sản xuất đại trà; mô hình chăn nuôi bò lai Sind quy mô 60 con; mô hình trồng cỏ làm thức ăn chăn nuôi quy mô 20 ha; đào tạo 9 kỹ thuật viên và tập huấn cho hơn 200 lượt nông dân về các quy trình trồng lúa chịu phèn, quy trình phòng chống dịch hại tổng hợp IPM, quy trình xử lý bảo quản sau thu hoạch, quy trình chăn nuôi bò thịt và trồng cỏ cao sản.

    5. Trong  công nghệ sinh học

 Đã triển khai thực hiện 47 dự án. Các dự án thuộc lĩnh vực này đã giúp các địa phương tiếp nhận và làm chủ các công nghệ về sản xuất giống nấm các cấp, nhân nhanh các giống cây trồng rừng bằng kỹ thuật mô hom, tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp, thủy sản để sản xuất các loại phân bón hữu cơ vi sinh, sản xuất các chế phẩm và thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học. Kết quả, đã đào tạo được 369 kỹ thuật viên cơ sở và tập huấn kỹ thuật cho 8.118 lượt nông dân, tổ chức chuyển giao và tiếp nhận 118 quy trình công nghệ, xây dựng được 368 mô hình sản xuất nấm tập trung và phân tán, xây dựng được 5 dây chuyền sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh, chế phẩm sinh học. Ví dụ:

 + Các dự án phát triển sản xuất nấm tại các tỉnh Nam Định, Sơn La, Thái Nguyên, Sóc Trăng, Hà Tĩnh, Tiền Giang, Quảng Trị, Kiên Giang đã giúp các địa phương tiếp nhận công nghệ và tự sản xuất được giống nấm các loại từ cấp I đến cấp III để cung cấp cho các vùng trồng nấm tại các địa phương trên địa bàn tỉnh và các tỉnh trong vùng. Giúp bà con nông dân tận dụng phế phụ phẩm nông, lâm nghiệp phát triển nghề trồng nấm tăng thu nhập, giải quyết việc làm trong thời gian nông nhàn. Từ kết quả của các dự án, hiện nay nghề trồng nấm đã và đang phát triển thành phong trào rộng khắp cả nước, bình quân mỗi năm sản lượng nấm các loại của các dự án thuộc Chương trình đạt khoảng 100.000 tấn ( cả nước 250.000 tấn/năm), doanh thu 1000 tỷ đồng/năm (cả nước 2.500 tỷ đồng/năm), giải quyết việc làm cho hàng triệu nông dân.

           + Dự án “Ứng dụng công nghệ sinh học sản xuất hữu cơ vi sinh vật chức năng phục vụ vùng tiêu trọng điểm tại Bình Dương và các tỉnh phía Nam”, đã xây dựng được một cơ sở sản xuất phân hữu cơ vi sinh vật chức năng có công suất 10.000 tấn/năm, sau khi dự án kết thúc đã nâng công suất lên 30.000 tấn/năm, doanh thu 15 tỷ đồng/năm đồng thời giải quyết được 100 lao động tại chỗ, sản phẩm phân bón của dự án không những cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng góp phần nâng cao năng suất, chất lượng mà đồng thời có tác dụng hạn chế bệnh héo rũ trên cây hồ tiêu và nhờ đó tăng lợi nhuận hơn so với ngoài mô hình là 7,1 triệu đồng/ha.

            + Dự án sản xuất phân hữu cơ sinh học tại Bình Định đã xây dựng được một cơ sở sản xuất phân POLYFA CFM (3-3-3) và POLYFA CF (1-3-1) từ phế, phụ phẩm của nhà máy mía đường có công suất 15.000 tấn/năm, doanh thu đạt 7 tỷ đồng/năm.

           6. Công nghệ phục vụ chế biến 

   Đã triển khai thực hiện 17 dự án, thông qua việc triển khai các dự án thuộc lĩnh vực chế biến đã giúp các doanh nghiệp địa phương tiếp nhận và làm chủ được các công nghệ về: Chế biến, bảo quản mặt hàng thủy, hải sản khô và đông lạnh, công nghệ sản xuất ván giăm và ván MDF, công nghệ thu gom và sơ chế sữa bò tươi. Kết quả, đã đào tạo được 205 kỹ thuật viên cơ sở, tập huấn kỹ thuật cho 450 nông dân, chuyển giao và tiếp nhận 26 quy trình công nghệ, cùng với kinh phí hỗ trợ của Nhà nước các doanh nghiệp đã huy động thêm hàng chục tỷ đồng từ vốn tự có để đối ứng. Các dự án thuộc lĩnh vực này, không những đã giúp các doanh nghiệp địa phương tiếp nhận và làm chủ được các công nghệ mà còn góp phần giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động ở khu vực nông thôn, tân dụng phế phụ phẩm của lâm sản, chống thất thoát sau thu hoạch, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị và kéo dài thời gian sử dụng của nông, lâm, thủy và hải sản, giải quyết sự dư thừa sản phẩm theo thời vụ, góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân. ví dụ:   

 + Dự án “Xây dựng mô hình chế biến gỗ điều để sản xuất đồ gỗ gia dụng tại tỉnh Bình Phước”, đã giúp địa phương tiếp nhận công nghệ xử lý gỗ từ phế, phụ phẩm của cây điều và cây cao su để sản xuất bàn ghế cho các trường tiểu học tại địa phương và các tỉnh lân cận, giải quyết việc làm cho 150 người dân tại chỗ, nâng cao thu nhập cho người dân trồng điều và tạo nguồn nguyên liệu cho xuất khẩu. Thông qua việc triển khai dự án đã hình thành trên địa bàn một doanh nghiệp chế biến gỗ từ phụ phẩm của lâm sản ở quy mô 5.000 m3/năm, doanh thu trong thời gian thực hiện dự án (2006, 2007) đạt bình quân 1,5 tỷ đồng/năm và lãi ròng bình quân 730 triệu đồng/năm. Hiện nay, công suất nhà máy đã được nâng lên 10.000 m3/năm và doanh thu năm 2009 đạt 15 tỷ đồng.

 + Dự án “Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ xây dựng x­ưởng chế biến và bảo quản một số mặt hàng thủy sản ở huyện Quỳnh Lư­u, tỉnh Nghệ An”,  doanh nghiệp chủ trì dự án đã tiếp nhận thành công công nghệ chế biến, bảo quản thủy hải sản và là đầu mối thu gom sản phẩm đánh bắt của bà con ngư dân để bảo quản, chế biến thành các mặt hàng có giá trị kinh tế phục vụ nội tiêu và xuất khẩu, nhờ vậy doanh thu của doanh nghiệp đã tăng từ 3,1 tỷ đồng (năm 2006, trước dự án) lên 19,5 tỷ đồng (năm 2009, sau dự án); hiện nay sản phẩm của dự án đã có mặt tại thị trường Lào, Đài Loan, Trung Quốc và Hàn Quốc (giá trị xuất khẩu năm 2009 đạt 11 tỷ đồng); mặt khác kết quả của dự án cũng đã góp phần thúc đẩy nghề đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản tại Nghệ An, giải quyết việc làm cho 230 lao động và nâng cao thu nhập cho ngư­ời dân địa ph­ương và các vùng lân cận, góp phần xóa đói giảm nghèo.

            7. Công nghệ phục vụ xử lý nước sạch, giảm thiểu ô nhiễm môi trường nông thôn và tiết kiệm năng lượng

         Đã triển khai thực hiện 16 dự án. Thông qua việc triển khai các dự án đã giúp địa phương tiếp nhận các công nghệ về xử lý nước sạch dùng cho sản xuất và sinh hoạt như: công nghệ xử lý nước mặt và nước ngầm cho dân cư vùng lũ, công nghệ xử lý Arsen và kim loại nặng trong nước sinh hoạt, ứng dụng công nghệ hồ treo để cung cấp nước sạch cho vùng thiếu nước...; các công nghệ về sử dụng dung dịch điện hoạt hóa khử trùng trong bệnh viện, trong môi trường chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường nông thôn và phòng tránh dịch bệnh; các công nghệ về giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong việc xây dựng lò gạch liên tục kiểu đứng thay thế các lò gạch thủ công; các công nghệ về xử lý nước thải trong sản xuất và chế biến; các công nghệ sử dụng năng lượng tái tạo để cung cấp điện cho dân cư hay sử dụng năng lượng mặt trời...

Các dự án đã đào tạo được hơn 130 lượt kỹ thuật viên và tập huấn cho khoảng 2.650 lượt người. Đã triển khai 25 mô hình. Đến nay, các mô hình xử lý nước mặt và nước ngầm cho dân cư vùng lũ đã được nhân rộng ra nhiều huyện trong tỉnh Long An và các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu...; các mô hình sử dụng dung dịch điện hoạt hóa khử trùng trong môi trường chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản đã bà con nông dân áp dụng và hưởng ứng làm theo đồng thời cũng được chính quyền địa phương các nơi tích cực chỉ đạo nhân rộng như: Quảng Nam, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Hưng Yên, Bắc Ninh, Phú Yên...

            8.Trong công nghệ thông tin

    Đã triển khai thực hiện 13 dự án nhằm giải quyết các vấn đề:

           + Phổ cập thông tin về khoa học và công nghệ tới người dân thuộc địa bàn nông thôn, miền núi đặc biệt là người dân ở vùng sâu, vùng xa để nâng cao khả năng tiếp nhận và ứng dụng các công nghệ mới, từng bước hình thành thị trường công nghệ và dịch vụ khoa học và công nghệ ở nông thôn tạo đà cho việc ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội khu vực nông thôn, miền núi theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá;

          + Ứng dụng công nghệ GIS trong quản lý môi trường, lũ lụt và phát triển kinh tế-xã hội.        

        + Các dự án đã đào tạo được 225 kỹ thuật viên cơ sở, tập huấn cho 1189 cán bộ, nông dân về thông tin khoa học công nghệ, xây dựng được 11 trung tâm thông tin KHCN ở 11 huyện của 9 tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Nam Trung bộ, miền núi phía Bắc, hình thành 85 trung tâm thông tin KHCN cấp xã, chuyển giao các thiết bị, phần mềm thư viện điện tử với 48.471 tài liệu về công nghệ, 277 phim, cơ sở dữ liệu chuyên gia, tổ chức tư vấn với 4.131 hồ sơ, đã tổ chức đào tạo kỹ thuật viên cho 9 Sở KH&CN và 156 kỹ thuật viên cho 85 xã, xây dựng trang web, biên tập bản tin KHCN cấp huyện cho 9 tỉnh; điều tra, thu thập và tổ chức cơ sở dữ liệu về tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường của 12 huyện, tỉnh Quảng Nam thuộc lưu vực hai sông Thu Bồn và Vu Gia phục vụ công tác quản lý lưu vực, phòng tránh lũ lụt và quy hoạch định hướng phát triển các loại cây trồng trên vùng đất thuộc lưu vực hai sông. Các dự án thuộc lĩnh vực này có ý nghĩa thiết thực trong việc phổ biến kiến thức khoa học công nghệ trực tiếp đến với người nông dân cũng như thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin ở khu vực nông thôn.    

9. Công tác đào tạo và tập huấn

Ngoài việc triển khai thực hiện các nội dung công nghệ, công tác đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật viên cơ sở, tập huấn kỹ thuật cho những người tiếp nhận công nghệ và bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức điều hành triển khai thực hiện các dự án cho cán bộ quản lý các cấp ở địa phương cũng được Bộ Khoa học và Công nghệ và Ban Chỉ đạo Chương trình chú trọng. Công tác đào tạo được tổ chức theo 2 hình thức:

          + Đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật viên cơ sở, tập huấn kỹ thuật cho những người tiếp nhận và trực tiếp triển khai công nghệ do đơn vị chuyển giao công nghệ và đơn vị chủ trì các dự án tổ chức trong quá trình triển khai thực hiện các nội dung dự án;

         + Đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức điều hành triển khai thực hiện các dự án cho cán bộ quản lý các cấp ở địa phương do Ban Chỉ đạo Chương trình tổ chức thực hiện, các lớp được tổ chức theo vùng sinh thái.

         Kết quả, Chương trình đã đào tạo được 1.566 kỹ thuật viên cơ sở, tập huấn kỹ thuật cho khoảng 35.136 lượt nông dân; tổ chức hàng chục cuộc hội thảo, hội nghị đầu bờ tại các địa phương với mục đích phổ biến kết quả áp dụng các công nghệ; tổ chức 4 hội nghị tập huấn về công tác quản lý tài chính cho các lãnh đạo đơn vị chủ trì, chủ nhiệm và kế toán của các dự án; đã tổ chức thực hiện 16 lớp “Đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý và tổ chức triển khai các dự án cho cán bộ quản lý khoa học và công nghệ địa phương, cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và cán bộ thuộc các cơ quan khoa học, những người trực tiếp tham gia chuyển giao công nghệ” với nội dung cụ thể là đào tạo bồi dưỡng, nâng cao năng lực lựa chọn, tổ chức, quản lý, điều hành dự án; duy trì và phát triển kết quả của dự án cho 800 người là cán bộ quản lý khoa học và công nghệ địa phương, cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, những người trực tiếp tham gia chuyển giao và tiếp nhận công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả và đảm bảo tính bền vững cũng như khả năng nhân rộng của các dự án. Đây là nhiệm vụ để triển khai thực hiện nội dung ghi tại Điểm 2, Mục II, Điều 1 của Quyết định 122/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

          Ngoài ra, Ban Chỉ đạo Chương trình đã phối hợp với các nhà khoa học biên soạn và xuất bản 8 cuốn sổ tay Chuyển giao công nghệ cho 8 vùng sinh thái trong cả nước làm tài liệu tham khảo cho các địa phương trong quá trình tìm kiếm, lựa chọn công nghệ để áp dụng trên địa bàn của địa phương mình.

  Đánh giá chung

Sau gần 6 năm thực hiện Chương trình đã chuyển giao 856 công nghệ và tiến bộ kỹ thuật là kết quả nghiên cứu khoa học của các tổ chức khoa học công nghệ vào địa bàn nông thôn, miền núi, hải đảo, các vùng khó khăn chậm phát triển, vùng dân tộc ít người. Những công nghệ được lựa chọn để chuyển giao trong Chương trình là công nghệ tiên tiến hơn so với công nghệ hiện có ở địa phương và hướng vào giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội có tầm quan trọng đối với địa phương như: nâng cao năng suất, chất lượng và đa đạng hóa các sản phẩm nông nghiệp hàng hoá, có tiềm năng về thị trường và phát huy lợi thế của từng vùng; hỗ trợ các doanh nghiệp hiện có ở nông thôn đổi mới công nghệ hoặc hỗ trợ hình thành các ngành nghề mới nhằm phát huy các lợi thế về ngành nghề truyền thống, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân; phát triển sản xuất tại một số địa bàn đại diện cho các vùng khó khăn, chậm phát triển, vùng dân tộc ít người.

Thông qua việc triển khai thực hiện Chương trình đã huy động trên 1.250 lượt cán bộ khoa học từ 68 tổ chức khoa học công nghệ của Trung ương và địa phương trong cả nước về phục vụ tại địa bàn nông thôn và miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đồng thới, đã đào tạo được 1.566 kỹ thuật viên cơ sở, tập huấn kỹ thuật cho khoảng 35.136 lượt nông dân, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý và tổ chức triển khai dự án cho 800 cán bộ quản lý khoa học và công nghệ địa phương là những người trực tiếp tham gia chuyển giao và tiếp nhận công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả và đảm bảo tính bền vững cũng như khả năng nhân rộng kết quả của Chương trình.

Chương trình đã huy động đồng bộ các nguồn lực (nhân lực, vật lực và tài lực) từ các tổ chức khoa học công nghệ, chính quyền các cấp, các doanh nghiệp và người dân tham gia thực hiện công tác chuyển giao khoa học và công nghệ vào địa bàn nông thôn và miền núi. Nhờ vậy, các hoạt động của Chương trình được xã hội hóa và góp phần hình thành mối liên kết giữa 4 nhà "Nhà nước - nhà khoa học - nhà nông - nhà doanh nghiệp"[1].

Thông qua việc phân cấp quản lý tới các địa phương, Chương trình đã phát huy được tính chủ động, sáng tạo và đề cao trách nhiệm của các địa phương, tạo điều kiện thuận lợi để địa phương tham gia đề xuất nội dung và trực tiếp triển khai các dự án của Chương trình.

Tóm lại: Chương trình đã hoàn thành và vượt các mục tiêu cụ thể và nội dung được phê duyệt tại Quyết định số 122/2004/QĐ-TTg ngày 5/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ. Các dự án của Chương trình đã thực sự tạo được điểm sáng về ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội thiết thực trên địa bàn thực hiện dự án, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, từng bước hình thành thị trường công nghệ ở nông thôn, tạo đà cho việc ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ vào sản xuất và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn, miền núi. Kết quả Chương trình đã được duy trì và nhân rộng, làm tiền đề cho các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác của địa phương, nâng cao hiểu biết, niềm tin và ý thức của người dân trong việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống. Chương trình đã góp phần cùng với các chương trình Khuyến nông, Khuyến ngư và Khuyến công phát triển các sản phẩm hàng hoá có lợi thế của các vùng, hình thành và phát triển nghề trồng nấm, nghề nuôi cá lồng, hình thành các doanh nghiệp chế biến lâm sản và thủy, hải sản nhỏ ở địa phương, tạo việc làm và tăng thu nhập cho hàng triệu lao động ở khu vực nông thôn, miền núi.

 



[1] - Đối với nguồn vốn thực hiện các dự án theo số liệu tổng hợp từ các dự án thuộc Chương trình: ngân sách trung ương hỗ trợ khoảng 39,7%, ngân sách địa phương khoảng 10%, còn lại 50,3% là đóng góp của doanh nghiệp, tổ chức chủ trì và người dân tham gia dự án.

- Nhà nước định hướng, hỗ trợ một phân tài chính và tạo hành lang pháp lý; Nhà khoa học nghiên cứu tạo  và cung cấp công nghệ, đào tạo chuyển giao công nghệ cho Nhà nông và Nhà doanh nghiệp; Nhà nông được đào tạo và tiếp nhận công nghệ từ các nhà khoa học để sản xuất nguyên liệu và các loại nông sản; Nhà doanh nghiệp được đào tạo và tiếp nhận công nghệ từ các nhà khoa học, thu mua nguyên liệu, nông sản từ Nhà nông tổ chức sản xuất chế biên và thị trường tiêu thụ sản phẩm.