chung cu times city, to chuc su kien, tai zalo , tai facebook, to chuc su kien

Counter

          Phát triển nông nghiệp, nông thôn là một trong những trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Sự quan tâm đó được thể hiện qua nhiều chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Chính phủ như:  Nghị quyết 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn; Chỉ thị số 63-CT/TW ngày 28/2/2001 của Bộ Chính trị về việc đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng KH&CN phục vụ công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Để từng bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, trong từng giai đoạn phát triển của đất nước Đảng và Nhà nước đã có nhiều biện pháp cụ thể trong chỉ đạo các Bộ, ngành, chính quyền các cấp thực hiện.

         Bộ Khoa học và Công nghệ với chức năng của mình, trong các chương trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đã luôn luôn ưu tiên trong đầu tư và hướng các hoạt động khoa học công nghệ vào phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn, từng bước thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn theo tinh  thần  của  Nghị quyết Trung ương 2 ( Khoá VIII).

        Song song với việc ưu tiên đầu tư cho các chương trình khoa học công nghệ phục vụ phát triển nông thôn, từ cuối năm 1998 thực hiện Quyết định số 132/1998/TTg ngày 21 tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ Bộ Khoa  học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) đã phối hợp với các Bộ, Ngành, các Tỉnh, Thành phố triển khai thực hiện Chương trình “Xây dựng mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi giai đoạn 1998 - 2002”. Qua hơn 5 năm thực hiện, Chương trình đã được triển khai tốt, hầu hết các dự  án thuộc Chương trình đã thực sự tạo được điểm sáng về ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội thiết thực trên các địa bàn thực hiện dự án, góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất, dân trí và cải thiện đời sống nhân dân, đặc biệt có những dự án đã trở thành tiền đề cho việc xây dựng mối liên kết giữa các nhà: “Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà nông – Nhà doanh nghiệp". Thông qua việc triển khai thực hiện các Dự án thuộc Chương trình, đã huy động hàng nghìn cán bộ khoa học và công nghệ của trên 50 tổ chức khoa học và công nghệ Trung ương về phục vụ nông nghiệp và nông thôn, đã tổ chức trên 800 lớp tập huấn ngắn ngày cho trên 47.000 lượt người, đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật và quản lý sản xuất cho khoảng 1.200 kỹ thuật viên và cán bộ xã, đây thực sự là đội ngũ nòng cốt để tiếp tục duy trì, nhân rộng và phát huy kết quả sau khi dự án kết thúc.                         

        Tiếp tục thực hiện các Nghị quyết và Chỉ thị của Đảng về phát triển nông nghiệp, nông thôn, ngày 05/7/2004 Thủ tướng Chính phủ đã  ban hành Quyết định số 122/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Chương trình "Xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi giai đoạn 2004 - 2010" với mục tiêu và nội dung chính như sau:

Mục tiêu: Thúc đẩy nhanh ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển giao kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và phát triển nông thôn; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá trên thị trường; từng bước hình thành thị trường công nghệ và dịch vụ khoa học và công nghệ ở nông thôn tạo đà cho việc ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội khu vực nông thôn, miền núi theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá; huy động tối đa nguồn lực xã hội, góp phần phát triển sản xuất hàng hoá, tăng thu nhập, tạo thêm việc làm cho nông dân, thực hiện mục tiêu chiến lược tăng trưởng và xoá đói, giảm nghèo; đào tạo và bồi dưỡng cho cán bộ kỹ thuật cơ sở và nông dân,...

Nội dung:  - Triển khai thực hiện các dự án xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao khoa học và công nghệ để giúp các địa phương giải quyết các vấn đề: nâng cao hiệu quả sản xuất lúa gạo và chất lượng gạo xuất khẩu; phát triển sản xuất các loại nông sản nhiệt đới có lợi thế so sánh cao; ứng dụng và phát triển các sản phẩm công nghệ sinh học; phát triển chăn nuôi an toàn; phát triển nuôi thủy sản kết hợp chế biến; phát triển ngành nghề nông thôn tạo việc làm, thu hút lao động nông nhàn và tăng thu nhập; xử lý cung cấp nước sinh hoạt, tưới tiết kiệm; cung cấp thông tin khoa học và công nghệ phục vụ phát triển nông thôn; ...

                    - Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý và tổ chức triển khai thực hiện dự án cho đội ngũ các bộ địa phương; đào tạo kỹ thuật viên cơ sở và tập huấn cán kỹ thuật cho người sản xuất để tạo mạng lưới cộng tác viên tiếp tục nhân rộng mô hình sau khi dự án kết thúc.

                    - Đặc biệt về cơ chế quản lý Chương trình, giai đoạn này các dự án thuộc Chương trình được chia thành hai nhóm: nhóm dự án Trung ương trực tiếp quản lý và nhóm uỷ quyền địa phương quản lý, cụ thể:

                      + Nhóm dự án Trung ương trực tiếp quản lý gồm các dự án giúp các địa phương giải quyết các vấn đề có tầm quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội, có quy mô lớn, có ảnh hưởng liên vùng hoặc một vùng kinh tế trọng điểm và đòi hỏi sự phối hợp của nhiều chuyên gia thuộc nhiều ngành, nhiều tổ chức khoa học và công nghệ từ Trung ương;

                      + Nhóm dự án uỷ quyền địa phương quản lý gồm các dự án giúp các địa phương triển khai áp dụng các công nghệ tiên tiến hơn công nghệ hiện có ở địa phương và phù hợp vói năng lực tổ chức quản lý của địa phương.

        Bộ Khoa học và Công nghệ được Thủ tướng Chính phủ giao chủ trì và phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan và các địa phương tổ chức triển khai thực hiện Chương trình.